Thứ Ba, 1 tháng 4, 2008

HƠI THỞ TRONG CUỘC SỐNG

Trong cuộc sống hiện nay, ăn và thở là điều cơ bản trong con người, không có ai mà không ăn , không thở, nhưng hơi thở thì quan trọng hơn ăn, nếu ngưng thở thì không sống được, cho nên nhịn ăn nhịn uống thì dể nhưng muốn nhịn thở thì không được. Do như vậy ta thấy rằng chính hơi thở mới là quyết định sự sống của con người. Các vị Lạt Ma bên Tây tạng họ luyện thở Yoga nói: "Làm chủ được hơi thở của chính mình là làm chủ sự sống". Nhưng làm thế nào để làm chủ được hơi thở, khi mà hơi thở không mất tiền mua, không phải là món vật quý hiếm, giá trị của nó không có, đâu đâu ai cũng có thể xài được và cũng chẳng có ai tranh dành, Ông hoàng , Bà chúa cho đến người bần cùng, các loài vật cây cỏ cũng cần đến . Đó là không khí một vật thể không mùi không sắc nhưng vô cùng quý giá mà chẳng ai quan tâm đến. Do vậy từ những hàng ngàn năm trước các vị tiền nhân họ đã tìm ra phương pháp hít thở cái không khí quý hiếm này do trời ban tặng cho người. Thở có phương pháp sẽ giúp cho ta đạt được những gì bổ ích cho sức khoẽ, sự sống và cả cho sự phát triển về tinh thần và trí tuệ. Đó là những phương pháp thở có ý thức còn gọi là Khí Công, trong Khí công có nhiều trường phái, mổi thầy dạy 1 cách, nói chung ai dạy cũng đúng nhưng đúng như thế nào là hiệu quả cao. Ở Trung quốc thì có khí công của các vị sư tăng, và các Đạo sĩ, bên Tây tạng thì có các vị Lạt Ma, do như vậy nếu nói về thở Khí công cũng làm cho nhiều người rối lên, vi chẳng biết ai đúng ai sai. Theo tôi đã từng tập luyện nhiều và cũng biết nhiều võ phái nên vấn đề đó cũng có nhiều kinh nghiệm.
Khí công chia làm 2 loại, thứ nhất là Khí công động; thứ hai là khí công tĩnh, cả hai loại này ai tập được thì rất tốt cho sức khoẽ.
Khí công động là thuộc dạng vận động cơ thể kết hợp cùng hơi thở, giống như vận động thể dục, Thiếu lâm thì có Dịch Cân Kinh, dưỡng sinh thì có Thái cực Quyền; Nội gia quyền thì có bài Ngũ cầm Hí v.v...Những phương pháp đó dùng để dưỡng sinh và tự điều chỉnh mất cân bằng, trong cơ thể con người, tập luyện cần nơi vắng lặng không tiếng ồn, không bụi bẩn, không khí trong sạch quang cảnh đẹp hài hoà. Tránh tập luyện khi trời mưa, sấm chớp. Nếu tập trong nhà cũng phải cần như vậy
Khí công tĩnh là phương pháp Tĩnh toạ, Thiền định và vận hành khí luân chuyễn trong cơ thể qua hai kinh mạch Nhâm và Đốc và dùng ý thức của mình làm chủ các hoạt động của khí. Phương pháp này phải kết hợp hài hoà nhuần nhuyễn giữa ý thức , nội lực và hơi thở phải đồng bộ giữa trạng thái thực với trạng thái vô hình ( những trạng thái có nhiều điều bí ẩn , khi khai thông được huyệt Bách hội)
Đó là những cách luyện thở có ý thức mà chúng ta ai cũng cần phải quan tâm , đừng lãng phí cái quý hiếm của thiên nhiên ban tặng cho con người, chúng ta hãy tận dụng nó đưa vào cơ thể chúng ta để tăng sức mạnh , đẩy lùi bệnh tật, chẳng mất tiền mua chỉ bỏ ra vài giờ để thu nạp vào chúng ta mổi tối hoặc mổi sáng như 1 bài thể dục chạy bộ

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2008

BÁT QUÁI ,NGŨ HÀNH

Trong vũ trụ có muôn vạn vì sao và các vì tinh tú. Vũ trụ bao la rộng lớn vô số kể, do vậy từ lâu triết học phương đông đã hình thành các thuyết về Âm Dương,
Vô cực sanh ra Thái cực, Thái cực sanh ra Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi sanh ra Tứ tượng, rồi tứ tượng sanh ra Bát quái, bát quái sanh ra 64 quẻ dịch. Từ đây con người mới suy ra những bí mật của vũ trụ , đó là kinh dịch
Bát quái gồm có: CÀN-ĐOÀI thuộc KIM, KHÔN- CẤN thuộc THỔ, CHẤN- TỐN thuộc MỘC, KHẢM thuộc THUỶ, LY thuộc HOẢ.
CÀN hướng TÂY BẮC ; KHÔN hướng TÂY NAM; CHẤN hướng ĐÔNG; TỐN hướng ĐÔNG NAM; KHẢM hướng BẮC; LY hướng NAM;CẤN hướng ĐÔNG BẮC; ĐOÀI hướng TÂY.
Đời thượng cổ, vua Phục Hy xem thiên văn và hình tượng trái đất nhận xét. Gần là thân của mình, xa lấy muôn vật. Đúc kết những quan sát đó mà tạo thành Bát quái.
a.- Về cơ thể con người: Trong Bát quái có 8 chử: CÀN; KHÔN; CHẤN; TỐN; KHẢM; LY; CẤN; ĐOÀI. Do đó ĐẦU = CÀN; BỤNG = KHÔN; CHÂN = CHẤN; BẮP VẾ = TỐN; TAI = KHẢM; MẮT = LY ; TAY = CẤN; MIỆNG = ĐOÀI.
b.- Về quyền thuật:
ĐẦU = CÀN; BỤNG = KHÔN; THÂN = KHẢM ; MẮT = LY; từ đốt xương thứ nhất của xương cùn cho đến đốt thứ 7 của cột sống = TỐN; cột xương cổ là = CẤN; bên trái bụng là CHẤN; bên phải bụng = ĐOÀI.
Kể từ tứ chi trở xuống; Bụng = Vô cực; Rốn = Thái cực; hai quả Thận là Lưỡng Nghi; hai tay và hai chân = Tứ tượng; hai cánh tay và hai chân mổi cái có 2 khúc gập lại thành Bát Quái.
Hai bàn chân và hai bàn tay có 20 ngón, tổng 4 ngón cái của 2 bàn tay và 2 bàn chân, mổi ngón chỉ có 2 đốt, suy ra cả thảy có 8 đốt. Còn lại 16 ngón tay và ngón chân, mổi ngón có 3 đốt vậy cả thảy có 48 đốt. Hợp với 2 khúc mổi tay và 2 khúc mổi chân, cộng 8 đốt xương ngón tay cái và bàn chân cái ta có 64 đốt , phù hợp với con số 64 quẻ dịch.
Từ những ý niệm trên gọi là : Vô cực sinh ra Thái cực; Thái cực sinh ra lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng; Tứ tượng sinh ra Bát quái và 8x8=64 biến theo một cấp số nhân với công bội là 2
c.- Hình tượng loài vật:
CÀN= NGỰA; KHÔN = TRÂU; CHẤN = RỒNG; TỐN = GÀ; KHẢM = HEO; LY = CHIM TRỈ; CẤN= CHÓ; ĐOÀI = DÊ
d.- Trong quyền thuật:
CÀN= SƯ TỬ; KHÔN = LÂN; CHẤN = LONG; TỐN = PHƯỢNG; KHẢM = XÀ; LY = KÊ; CẤN = GẤU; DOÀI = HẦU
Ứng dụng kinh dịch, lấy Bát quái trong thân thể là gốc ở bên trong . Bát quái bên ngoài là cái dụng của tứ chi. Sách Hoàng Đế Nôi Kinh có ghi "Thân thể con người có đủ cái gốc tiên thiên và hậu thiên, CHẤN là Tiên thiên; TỲ là Hậu thiên". Gốc là cội rể , là nguồn gốc
Ngũ Hành: Chử Hành nghĩa là Đi, là sự vận động, quá trình chuyển động các lực tác động qua lại lẩn nhau.
Vận động ngũ hành: có tương sanh tương khắc
- Tương sanh: MỘC sanh HOẢ sanh THỔ sanh KIM sanh THUỶ sanh MỘC v.v...
- Tương khắc : MỘC khắc THỔ khắc THUỶ khắc HOẢ khắc KIM khắc MỘC v.v...
Trong con người:
1.-Tạng: Mộc = Gan; Hoả = Tâm; Thổ = Tỳ; Kim = Phế; Thuỷ = Thận.
2.- Phủ: Mộc = Đởm; Hỏa = Tiểu trường; Thổ = Vị; Kim = Đại trường; Thuỷ + Bàng quang.
3.- Ngũ quang: Mộc = Mắt; Hoả = Lưởi; Thổ = Miệng; Kim = Mũi; Thuỷ = Tai.
4.- Ngũ Thể : Mộc = Gân; Hoả = Mạch máu; Thổ = Thịt; Kim = Da lông; Thuỷ = Xương tuỷ
5.-Tình cảm: Mộc = Giận; Hỏa = Mừng; Thổ = Lo; Kim= = Buồn; Thuỷ= Sợ
6.-Ngũ Âm: Mộc = Hét; Hoả = Cười; Thổ = Hát; Kim = Khóc; Thuỷ = Rên